Trang chủ Cloud Computing

Tổng quan về Multimedia cloud computing

Tổng quan về Multimedia cloud computing

Internet đang có tác động đáng kể đến các ngành công nghiệp liên quan đến truyền thông, ngành truyền thông đang sử dụng internet như một phương tiện để phân phối nội dung cho người dùng cuối. Các trang website, trang download phần mềm, truyền thông tương tác... ngày càng trở nên phong phú, vũ trụ truyền thông kỹ thuật số ngày càng mở rộng, đòi hỏi một cách tiếp cận mới để phân phối nội dung. Kích thước và khối lượng nội dung đa phương tiện đang tăng theo cấp số nhân.

Ví dụ: hơn 30 tỷ nội dung như liên kết web, tin tức, bài đăng trên blog, ghi chú và album ảnh được chia sẻ mỗi tháng trên Facebook. Người dùng Twitter đang tweet trung bình 55 triệu tweet mỗi ngày bao gồm các liên kết web và album ảnh. Các trang web và nội dung đa phương tiện hiện nay đang được phân phối thông qua các công nghệ mạng phân phối nội dung (CDN). Các công nghệ này tối ưu hóa việc sử dụng mạng thông qua các liên kết mạng chuyên dụng, cache server và công nghệ peer-to-peer. 

Khái niệm về CDN đã được hình thành từ những ngày đầu của Internet nhưng phải đến cuối những năm 1990 mới trở nên phổ biến hơn, CDN của Akamai và các nhà cung cấp thương mại sử dụng để quản lý cung cấp nội dung Web (trang web, văn bản, đồ họa, URL và tập lệnh), đồng thời đáp ứng tính sẵn sàng và chất lượng cao được mong đợi bởi người dùng cuối. Ví dụ: Akamai cung cấp từ 15-30% tất cả lưu lượng truy cập Web, đạt hơn 4 Terabits mỗi giây. Các CDN thương mại đã đạt được điều này bằng cách triển khai một hệ thống máy chủ riêng và sử dụng hệ thống phần mềm CDN phân tán tại nhiều trung tâm dữ liệu trên toàn thế giới.

Một biến thể khác của công nghệ CDN đã xuất hiện vào giữa năm 2000 để hỗ trợ truyền phát hàng trăm kênh độ nét cao cho khách hàng trả phí. Các CDN này đã phải đối phó với các yêu cầu Chất lượng dịch vụ (QoS) nghiêm ngặt hơn để hỗ trợ trải nghiệm người dùng liên quan đến video độ phân giải cao. Điều này đòi hỏi sự quản lý tích cực các tài nguyên mạng cơ bản và sử dụng các bộ giải mã chuyên dụng bao gồm đầu ghi video (cung cấp chức năng dừng/tiếp tục và ghi/phát lại) và bộ giải mã phần cứng (ví dụ: nén/giải nén video MPEG4). Hầu hết Các video CDN được phát triển bởi các công ty viễn thông sở hữu mạng riêng và có  Operation Support Systems (OSS) để quản lý QoS mạng theo yêu cầu nhằm duy trì tính toàn vẹn của video độ phân giải cao. Giống như CDN nguyên bản, video CDN cũng sử dụng một bộ máy chủ riêng được phân phối trên mạng của nhà cung cấp dịch vụ video. Có thể kể tới một số nhà cung cấp video CDN tiêu biểu như: Verizon's FiOS và AT&T's U-verse. Một số nhà cung cấp CDN như Limelight Networks đã đầu tư hàng tỷ đô la vào việc xây dựng mạng cáp quang để phân phối và chuyển nội dung từ máy chủ đến người dùng cuối.

Một biến thể gần đây của video CDN liên quan đến caching nội dung video trong bộ nhớ đám mây và phân phối nội dung đó bằng các dịch vụ mạng của bên thứ ba, biến thể này được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu QoS của bộ nhớ đệm và phát trực tuyến video độ phân giải cao. Ví dụ: Video CDN của Netflix đã được phát triển trên Amazon AWS. CloudFront là CDN của Amazon, sử dụng Amazon AWS và cung cấp dịch vụ phát video trực tuyến bằng Microsoft Xboxes. Mặc dù CDN dựa trên đám mây đã đạt được tiến bộ rõ rệt trong năm năm qua, chúng vẫn bị hạn chế ở các khía cạnh sau:

- Các nhà cung cấp CDN sở hữu tất cả các dịch vụ để chạy CDN của họ hoặc họ thuê ngoài dịch vụ từ một nhà cung cấp đám mây duy nhất. Một mối quan hệ pháp lý và kỹ thuật chuyên ngành là cần thiết để vận hành CDN hoạt động trong trường hợp này.

- Video CDN không được thiết kế để quản lý nội dung (ví dụ: tìm và phát phim độ nét cao). Điều này thường được thực hiện bởi các ứng dụng CDN. Ví dụ: CDN không cung cấp dịch vụ cho phép một cá nhân tạo dịch vụ phát nhạc trực tuyến kết hợp video nhạc từ nguồn nội dung hiện có trên Internet (ví dụ: YouTube), bộ sưu tập cá nhân, nguồn nội dung từ các buổi biểu diễn trực tiếp quay từ điện thoại thông minh. Điều này chỉ có thể được thực hiện bởi một ứng dụng quản lý CDN.

- CDN được thiết kế để truyền phát nội dung theo giai đoạn nhưng không hoạt động tốt trong các tình huống mà nội dung được tạo ra một cách linh hoạt. Đây thường là trường hợp khi nội dung được sản xuất, quản lý và tiêu thụ trong các hoạt động hợp tác. Ví dụ, một giáo viên nghệ thuật có thể tìm và thảo luận về các bộ phim từ các kho lưu trữ phim khác nhau, các bộ phim được chọn sau đó có thể được chỉnh sửa bởi các sinh viên. Các bộ phận của chúng có thể được sử dụng để sản xuất những bộ phim mới có thể được gửi cho các bạn học sinh để nhận xét và đề xuất. CDN hiện tại không hỗ trợ các hoạt động hợp tác như vậy liên quan đến việc tạo nội dung động.

Các vấn đề chính trong Multimedia Cloud Computing:

- Quy trình quản lý hợp tác nội dung

- Lưu trữ, nén và lập chỉ mục nội dung linh hoạt

- Cá nhân hóa nội dung và bối cảnh hóa nội dung

- Xây dựng cộng đồng

- Tối ưu hóa chất lượng dịch vụ

Nguồn: tech.vccloud.vn 

>> Có thể bạn quan tâm: Tên miền email doanh nghiệp là lựa chọn tốt nhất

BizFly Cloud là hệ sinh thái điện toán đám mây được vận hành bởi VCCorp - Công ty dẫn đầu trong lĩnh vực truyền thông và internet tại Việt Nam. Với đội ngũ kỹ thuật viên trình độ cao và kinh nghiệm lâu năm làm việc trên các công nghệ khác nhau như cloud, mobile, web..., chúng tôi có đủ khả năng để hỗ trợ đưa ra những giải pháp và công nghệ toàn diện giúp doanh nghiệp chuyển đổi số thành công. Dành cho độc giả quan tâm tới các dịch vụ đám mây do BizFly Cloud cung cấp có thể truy cập tại đây.